Cựu thủ tướng Anh Tony Blair: Vì một thế giới hòa bình và phát triển

Sau 10 năm làm thủ tướng Anh, Tony Blair bị nhiều người căm ghét vì ông đã đổ quân tấn công Iraq. Gạt đi thành kiến, Esquire đã có bài phỏng vấn Tony Blair để tìm hiểu thêm về nhân vật gây nhiều tranh cãi này

tony-blair-hinh-anh

Bàn làm việc của Blair nằm trong một căn phòng lớn. Trong căn phòng lớn này có những bước tranh vẽ thành phố Cairo và Jerusalem (có từ thế kỷ 19). Trên một bức tường khác là ảnh chụp một người Do Thái chính thống ngồi cạnh một gian hàng ngoài chợ. Đây là những tác phẩm ấn tượng, nhưng bất kỳ ai bước vào căn phòng này đều vô hình trung phải chú ý đến một vật khác: Một tấm bản đồ châu Phi và Trung Đông cực lớn. Khi chúng tôi nhìn vào bản đồ, Blair xuýt xoa rằng diện tích châu Phi rất lớn. Sau đó, ông chỉ tay vào Israel và nhận xét rằng quốc gia này rất nhỏ bé so với các nước Ả Rập xung quanh. Đây cũng là nơi chúng tôi đã cùng nhau đến thăm vài ngày trước đó.

Tôi và Blair tiếp tục dạo bước đến một căn phòng khác. Giữa những tấm ảnh chụp vợ chồng Tony Blair và bốn đứa con, có một tấm rất khác biệt và khá bắt mắt: Hai đứa bé chơi bóng đá trên một bãi đất trống. Theo Blair, có lẽ bức ảnh này được chụp ở Rwanda (châu Phi), một nơi khác mà chúng tôi từng cùng đến thăm. Trong phòng toàn là ảnh công việc hiện tại của Blair. Ông đang hoạt động vì hòa bình Trung Đông và phát triển kinh tế – chính trị ở châu Phi. Blair dành rất nhiều thời gian, tâm huyết, và thường xuyên đề cập đến hai quá trình này khi nói chuyện.

Ngoài một bức tượng cựu thủ tướng Anh Harold Wilson, ở đây không có thứ gì khác đại diện cho nước Anh. Blair rất tinh ý. Ngay khi nghe nói trong phòng có nhiều hình ảnh về châu Phi và Trung Đông, ông lập tức mở cửa bước vào một văn phòng khác, nơi trưng bày tác phẩm của các nghệ sỹ người Anh. Có lẽ ông đã quá quen với việc giữ hình ảnh khi trả lời phỏng vấn và hiểu rằng không thể để mất chất Ăng-lê.

Văn phòng của Blair là một căn nhà phố ở quảng trường Grosvenor (London, Anh), một trong những nơi có giá nhà đất đắt đỏ nhất thế giới. Blair rời căn nhà số 10 đường Downing (nơi ở chính thức của thủ tướng Anh) cùng “ba nhân viên, bốn chiếc điện thoại, không một mảnh đất cắm dùi”. Trong chín năm sau đó, ông đã xây dựng một cơ sở hoàn chỉnh để thuận tiện làm tất cả những gì mình muốn. Blair hiện sở hữu nhiều tổ chức từ thiện và công ty thương mại, tạo việc làm cho khoảng 200 nhân viên. Nguồn vốn là tiền túi của ông, tiền quyên góp của những người giàu có, và thỉnh thoảng là tiền viện trợ hoặc quỹ phát triển của các quốc gia khác. Từ khi từ chức thủ tướng, Blair đã tập trung nhiều tinh thần và thời gian nhất cho việc xây dựng hệ thống này.

Cả Blair và Đại sứ quán Hoa Kỳ (nằm đối diện văn phòng) đều định dời đến những nơi hiện đại hơn. Blair ước tính ông dành khoảng 80% thời gian để làm từ thiện và dự định sẽ đóng cửa Tony Blair Associates (một hệ thống các công ty tư vấn có thu lời). Tuy nhiên, ông vẫn sẽ giữ lại một số việc làm mang lại lợi nhuận cao: Tư vấn cho ngân hàng Mỹ JP Morgan (với mức lương 2 triệu bảng Anh mỗi năm) và diễn thuyết có tính phí.
Blair hiện đang làm từ thiện trong bốn mảng chính: Giúp các nước đang phát triển thực hiện những chính sách tốt; thương lượng vì hòa bình Trung Đông; tìm ra các ý tưởng mới chống Hồi giáo cực đoan; ủng hộ đường lối trung dung trong chính trị. Ngoài ra, ông còn có các quỹ khuyến khích thể thao và hòa hợp tôn giáo.

Blair rất bận rộn. Ông tận dụng triệt để mỗi phút giây trong ngày. Blair bắt đầu ngày làm việc từ sớm và ra về muộn, dự hết cuộc họp này đến cuộc họp khác. Ông không nghỉ trưa, ít khi ăn trưa, không nghỉ cuối tuần mà chỉ nghỉ làm vào ngày lễ.

Vậy tại sao Blair lại phải vất vả như thế?

Câu trả lời không đơn giản. Blair là một nhà ngoại giao tự do, một lãnh tụ không quốc gia, một nhà chiến thuật chính trị, một nhà phân tích chính sách. Blair muốn thay đổi cách phương Tây chống chủ nghĩa cực đoan và viện trợ cho nước nghèo. Ông muốn xây đựng một đường lối chính trị mới, ôn hòa và thực tế hơn. Nói chung, Blair muốn mang mọi người đến gần nhau thay vì chia rẽ họ, muốn bắc cầu thay vì xây tường rào, và ủng hộ một ý tưởng ngày càng lỗi thời: toàn cầu hóa.

Bây giờ mới làm những chuyện này có phải là quá trễ không?

Có rất nhiều ý kiến trái chiều về Blair trên thế giới, nhưng không đâu mà cái tên Blair lại bị bôi nhọ như ở Anh. Cuộc đời và những thành tựu của Blair bị lu mờ bởi cuộc chiến Iraq, bao gồm giai đoạn trước chiến tranh, cuộc xâm lăng và những hậu quả thảm khốc của nó.

Đối với giới truyền thông, ông là một bức biếm họa biết đi, một kẻ hám lợi, đạo đức giả (vì chơi thân với các nhà độc tài và những người giàu có) và hoang tưởng (vì cho rằng xâm lược Iraq là đúng). Có người còn cho rằng ông là một kẻ lừa đảo, một tên tội phạm chiến tranh.

Theo Blair, không có cách gì thay đổi được công luận ở Anh, nên ông tập trung nhiều hơn vào các nước khác.

Vào tháng 5–2016, sau khi đài truyền hình BBC có một cuộc phỏng vấn khá thân thiện với Blair, Tờ The Times chạy dòng tít: “Blair: Tôi không giàu lắm và tôi làm rất nhiều điều tốt” (“Blair: I’m not too rich and do lots of very good work”). Ngụ ý rất rõ ràng: Blair giàu lắm và không làm nhiều điều tốt. Tôi hi vọng bài viết này không rơi vào hai cực điểm: tô hồng như BBC hay mỉa mai như The Times.

Chủ tòa soạn The Times là Rupert Murdoch, bạn cũ của Blair. Không có tờ báo Anh nào ưa Blair, nhưng The Times là tờ tấn công Blair nhiều và liên tục nhất. Khi được hỏi về vấn đề này, Blair xoay tròn mắt, nhướn mày, nhún vai và tỏ vẻ ngơ ngác. Đây là phản ứng của Blair khi không muốn trả lời câu hỏi. Phóng viên không thể ghi lại hoặc thu âm một cái nhún vai.

Không phải ai cũng thù ghét Blair, nhưng phần lớn đều như vậy. Nhiều người lo ngại rằng cho Blair lên bìa Esquire sẽ làm tạp chí khó bán, hoặc cho rằng Blair không xứng đáng. Nhưng dù tốt hay xấu, Blair cũng có ảnh hưởng cực lớn đến nước Anh, thậm chí thế giới, trong 25 năm qua.

Những người khác cho rằng chúng tôi bị Blair lừa. Thật vậy, có những lúc người viết cảm thấy như đang bị dắt mũi. Có lần, Blair dẫn chúng tôi vào một nhà máy điện mặt trời ở Rwanda. Nơi này rất ấn tượng, nhưng không có liên quan gì đến bài viết. Nhân viên của Blair sẽ không bao giờ giới thiệu những chỗ đen tối hơn (nếu có).

Esquire gặp Blair lần đầu tiên vào tháng 4–2016 ở quảng trường Grosvenor. Chúng tôi đã mời ông lên bìa Esquire, và cũng nói rõ rằng bài viết sẽ chú trọng đến hiện tại, nhưng vẫn phải hỏi về các chủ đề khó nhằn như cuộc chiến Iraq và hậu quả của nó. Blair đã trả lời rằng buổi phỏng vấn chính phải dời đến sau khi bản báo cáo Chilcot được công bố (đây là kết quả của một cuộc điều tra độc lập về chiến tranh Iraq). Trong thời gian đó, chúng tôi có thể đi cùng Blair để quan sát ông làm việc.

Tất cả những câu trích dẫn trong bốn phần Q&A sau đều xuất phát từ buổi phỏng vấn cuối cùng ở London.

–––

Cựu thủ tướng Anh Tony Blair

–––

Trích đoạn một bài phỏng vấn Tony Blair tại London, 15–9–2016
Phần Một

Ông từng được rất nhiều người yêu mến sau khi lên làm thủ tướng, nhưng cuối cùng, ai cũng nhớ đến ông như kẻ đã xâm lược Iraq. Ông cảm thấy như vậy có công bằng không?

Có. Nhưng tôi nghĩ thời gian sẽ chứng minh rằng tôi đúng. Tôi càng cố giải thích rằng tấn công Iraq là đúng thì mọi người càng không đồng ý. Có lẽ sau này họ sẽ nghĩ chừng mực hơn về lý do và kết quả của cuộc chiến. Nhưng tôi không dành nhiều thời gian chiêm nghiệm về chuyện đó. Tôi đang tập trung vào công việc hiện tại.

Thủ tướng nào cũng khởi đầu hoành tráng và bị ghét bỏ khi rời nhiệm sở, nhưng sự khác biệt rất rõ ràng với ông. Công luận có sai về ông không?

Không. Những quyết định khó khăn lúc nào cũng gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, người lãnh đạo có trách nhiệm phải làm những điều đúng đắn, dù người khác có thích hay không. Sau một thời gian, công chúng sẽ chấp nhận điều đó.

Tôi đã có mặt tại buổi họp báo của ông sau khi bản báo cáo Chilcot xuất hiện. Khi ông bước vào, người ngồi phía sau tôi nói ông trông có vẻ vô cảm và tê dại. Nói như vậy có đúng không?

Không. Tôi hiểu rõ tầm quan trọng của cuộc họp báo và tranh luận. Kết luận của bản báo cáo không có gì bất ngờ đối với tôi, nhưng tôi muốn nói rõ quan điểm của mình và trả lời câu hỏi của báo giới. Tôi hoàn toàn nghiêm túc khi nhận trách nhiệm. Cách nghĩ của tôi luôn rõ ràng và chưa bao giờ thay đổi.

Kết luận của bản báo cáo là vậy, nhưng nội dung có gì bất thường không?

Không, mặc dù có một số chỗ tôi rất không đồng ý.

Truyền thông gọi xâm lược Iraq là “Chiến tranh của Blair”. Ông là người duy nhất phải chịu trách nhiệm, mặc dù có rất nhiều người và quốc gia khác liên quan. Ông cảm thấy như thế nào về điều này?

Tôi là người sẵn sàng chịu trách nhiệm. Những vấn đề xung quanh chiến tranh Iraq rất nghiêm trọng và vẫn còn tác động lên thế giới hôm nay. Cách phương Tây đối phó với chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan dựa trên suy nghĩ sai lầm rằng chúng ta đã gây ra hiện tượng này. Sau này, mọi người sẽ hiểu chúng ta chỉ vô tình bị cuốn vào đó. Rắc rối lớn nhất hiện nay là Syria. Không thể nói phương Tây gây ra mớ hỗn độn đó, vì chúng ta không hề xâm lược Syria.

Có phải hệ quả của chiến tranh Iraq là nước Anh và phương Tây không muốn can thiệp vào Syria và các nước khác nữa?

Đúng vậy.

Nếu vẫn còn nắm quyền, ông sẽ đưa quân vào Syria?

Nước Anh sẽ nỗ lực hơn để ổn định Syria và dùng bộ binh nếu cần. Nhưng quan trọng hơn, bài học từ Iraq và Afghanistan, áp dụng vào Libya và Syria, là: lật đổ chính quyền sẽ mở đường cho các phần tử xấu lên nắm quyền. Vì vậy, ở Libya và Syria, tôi muốn thương lượng với Gaddafi và Assad (lãnh đạo hai nước này) để họ thay đổi chế độ một cách hòa bình. Thay vào đó, phương Tây lựa chọn cách loại bỏ những nhà độc tài này. Nếu đã lỡ đi vào con đường này rồi thì phải làm thật mạnh tay: tiêu diệt chính quyền và đổ quân vào để ổn định quốc gia đó. Cách làm gà không ra gà, chó không ra chó của phương Tây đã góp phần vào cuộc khủng hoảng ở Syria.

Nhưng không thể tuyên chiến nếu người Anh phản đối. Sau Iraq, công luận cho rằng đưa quân vào nước khác ảnh hưởng xấu đến cả hai nước.

Đúng vậy.

Nếu có nhiều người ủng hộ, có lẽ David Cameron đã tấn công Syria.

Nhiều người phân tích như vậy, nhưng cần phải nhớ rằng: Chúng ta đã can thiệp toàn diện vào Iraq; can thiệp một phần vào Libya; không can thiệp vào Syria. Trong ba nước đó, chỉ có chính quyền Iraq là được công nhận khắp thế giới. Cả Ả Rập Saudi và Iran đều có quan hệ tốt với Iraq. Iraq cũng có khả năng chống khủng bố tương đối tốt. Libya gặp nhiều trục trặc, nhưng họ đã liên tục tấn công Hồi giáo cực đoan. Nhà nước Hồi giáo IS ở Libya yếu hơn nhiều so với ở Syria. Vì vậy, quan điểm của tôi rất đơn giản: nếu không muốn thương lượng với các nhà độc tài thì phải làm đến cùng.

–––

Cựu thủ tướng Anh Tony Blair

–––

Ngày 6–7–2016, bản báo cáo Chilcot được công bố. Hai giờ chiều, Blair mở một cuộc họp báo. Trong phòng là bốn máy quay cùa các hãng truyền hình và khoảng 40 người (gồm nhà báo, nhân viên an ninh, người của Blair). Ông từng là một người đầy quyền lực và được yêu mến, từng là biểu tượng cho tương lai, nhưng giờ đây đã trở thành gương mặt của một quá khứ mà nhiều người muốn quên đi.

Blair bước lên sân khấu và đặt một tờ giấy nhỏ lên bục. Ông trông có vẻ căng thẳng, mặt trắng bệch. Căn phòng yên tĩnh và hơi tối. Blair nói suốt 40 phút, có những lúc xúc động đến mức đứng không vững.

Bài phát biểu có đoạn: “Đưa quân vào Iraq là quyết định khó khăn, quan trọng và đau đớn nhất của tôi. Tôi nhận trách nhiệm hoàn toàn”.
Blair thừa nhận rằng thông tin tình báo về việc Iraq có vũ khí ủy diệt hàng loạt là sai. Ông công nhận hậu quả đẫm máu của việc xâm lược Iraq, và “thay vì sống trong an toàn và tự do, người Iraq trở thành nạn nhân của xung đột tôn giáo”.

Tuy nhiên, có hai điểm mà Blair không đồng ý: Lật đổ Saddam Hussein tạo ra chủ nghĩa khủng bố ở Trung Đông và quân nhân Anh đã bỏ mạng vô ích ở Iraq. Theo Blair, “thế giới đã trở nên tốt đẹp hơn sau khi loại bỏ Hussein; binh sỹ Anh không hề chết vô ích”.

–––

Cựu thủ tướng Anh Tony Blair

–––

Trích đoạn từ bài phỏng vấn Tony Blair tại London, 15–9–2016

Phần Hai

Tôi có trong tay một bài báo của tờ The New York Times, ra ngày 7–7–2016, một ngày sau Chilcot. Tôi nghĩ tờ báo Mỹ này không thành kiến về ông như báo giới nước Anh.

Nhưng tờ báo đó rất ghét can thiệp vào nước khác, bất kể vì lý do gì.

Đây là tóm tắt của họ: “Bản báo cáo độc lập cho thấy: Thủ tướng Anh Tony Blair đổ quân vào Iraq dựa trên tin tình báo sai lệch, tính pháp lý mập mờ, khâu chuẩn bị yếu kém. Blair đã không hề thẩm tra các cơ quan tình báo mà chỉ biện hộ cho cuộc xâm lược bằng những tuyên bố cường điệu”. Ông có đồng ý với họ không?

Không. Mặc dù không có gì lúc đó, nhưng Saddam Hussein hoàn toàn có thể sản xuất các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt trong tương lai. Phải nhìn vào chủ ý của chế độ đó, xem tương lai sẽ như thế nào nếu không loại bỏ hắn. Nếu chúng ta không tấn công Iraq, thế giới hôm nay sẽ an toàn hơn hay nguy hiểm hơn? Ngoài ra, lúc đó, Mỹ muốn can thiệp còn Nga thì không. Ở cương vị thủ tướng Anh, tôi cần đứng về phía Mỹ. Những người phản đối tôi cần phải đọc bản báo cáo và phản ứng của tôi lúc đó. Tôi đã chấp nhận những chỗ thất bại và xin lỗi, nhưng cũng đã đưa ra lý do làm những việc cần làm. Tôi hoàn toàn tin rằng thế giới an toàn hơn khi không có Saddam Hussein. Đương nhiên, người khác có thể không đồng ý với quan điểm này.

“Cái gì tôi cũng làm theo anh hết” là một câu ông gởi cho Tổng thống Mỹ George W. Bush vào năm 2002. Ông có hối hận vì đã nói như vậy?

Không. Lời nhắn của tôi dài hơn nhiều. Sau chữ “hết” là chữ “nhưng” để chỉ ra những khó khăn và thách thức và thuyết phục Mỹ đem vấn đề này ra Liên Hiệp Quốc. Cuối cùng Mỹ đã làm như vậy.

Tôi hỏi vì ai cũng dùng câu nói đó để lăng mạ ông.

Không có câu đó thì họ cũng moi ra thứ khác thôi. Đây là quyết định khó khăn nhất mà tôi từng đưa ra. Tôi chưa hề thiếu tôn trọng những người không đồng ý với tôi. Tôi chỉ không đồng ý khi họ nói: “Ông làm như vậy vì có động cơ cá nhân”. Tôi làm mọi thứ vì tôi nghĩ đó là điều đúng đắn. Nghĩ như vậy có hợp lý hay không mới là điều đáng bàn.

Ngoài khía cạnh chính trị và an ninh, ông đã nói về tính đạo đức của cuộc xâm lược. Lúc tuyên chiến ông chỉ nói “Cần phải loại bỏ Saddam Hussein vì hắn có vũ khí hủy diệt hàng loạt”. Ông không hề nói: “Tiêu diệt Saddam Hussein là hành vi có đạo đức”. Cái đó là ông thêm vào sau này.

Chế độ Saddam Hussein rất hung hãn, đó mới là mối đe dọa thật sự. Triều Tiên cũng vậy, họ đáng sợ không phải vì vũ khí hạt nhân. Những bài diễn thuyết của tôi trước tháng 3–2003 luôn nói về bản chất của Saddam Hussein. Người ta cũng quên rằng Iraq đã dùng vũ khí hóa học trong cuộc chiến tranh Iran–Iraq. Cuộc chiến đó đã làm một triệu người chết và bị thương. Việc bị tấn công hóa học đã khiến Iran phát triển vũ khí hạt nhân. Chuỗi sự kiện đó có ảnh hưởng xấu lên thế giới.

Nếu nói như vậy thì cũng nên giải quyết chế độ hiện tại ở Iran?

Không thể tiêu diệt tất cả các chế độ xấu xa và cũng không nên làm như vậy. Như đã nói, tôi ủng hộ thương thuyết với Gaddafi và Assad. Tuy nhiên, càng ít chính quyền hung hăng, thế giới càng được nhờ.

John Prescott, phó thủ tướng dưới thời ông, cho rằng xâm lược Iraq là sai. Ông có gì để nói với ông ta không?

Cũng như nhiều người cánh tả, John tin rằng phương Tây đã tạo ra Hồi giáo cực đoan. Đây là một sai lầm căn bản. Nói như vậy không khác nào làm tuyên truyền cho khủng bố. Bọn chúng nói, “chúng tao làm như vậy vì bị phương Tây bắt buộc”. Không ai bắt buộc bọn chúng đánh bom tự sát cả. Chúng đánh bom vì chúng là loại người thích đánh bom. Phương Tây đến Afghanistan và Iraq để loại bỏ các chế độ độc tài mà người dân ở đó hoàn toàn không ủng hộ. Sau đó chúng ta để Liên Hiệp Quốc tổ chức bầu cử cho họ, chúng ta viện trợ không giới hạn để họ phát triển đất nước. Làm như vậy mà gọi là áp bức họ sao?

Không phải là áp bức, chỉ là cuộc sống sau chiến tranh quá đau thương.

Vì vậy chúng ta cần phải xác định những kẻ gây ra nguy hiểm và tìm cách đánh bại chúng. Không thể nói với người dân các nước đó rằng, “hãy sống dưới một chế độ độc tài tàn bạo vì đời là thế”.

Tôn giáo có giúp ông giữ bình tĩnh khi bị lăng mạ không?

Tôn giáo và những thứ tương tự hỗ trợ tinh thần rất hiệu quả, nhưng không áp dụng được trong trường hợp này. Thay vào đó, tôi có lòng tin tuyệt đối rằng mình đã làm điều đúng đắn. Tôi không chắc đã làm đúng, nhưng tôi tính toán rất cẩn thận và xem xét mọi thứ rồi mới ra quyết định. Đến bây giờ, ngày nào tôi cũng suy ngẫm về quyết định đó. Đây cũng là một phần lý do tôi đang hoạt động từ thiện ở Trung Đông.

Nếu tôi làm một việc mà mình tin là đúng về mọi mặt mà lại bị sỉ nhục như ông, tôi sẽ rất phẫn nộ và bất bình.

Tức giận chỉ hại mình và không giải quyết được vấn đề. Tôi đã dẫn đường cho nước Anh vĩ đại này trong 10 năm. Cuộc sống của tôi viên mãn trong nhiều khía cạnh. Tôi có một gia đình đầm ấm. Phần lớn những người tôi gặp trên thế giới sống khó khăn hơn nhiều. Khi công việc nhiều áp lực, con người được tôi luyện và từ đó trưởng thành hơn.

Nếu muốn tức giận, hãy đến châu Phi và xem người nghèo sống ra sao. Anh sẽ thấy phẫn nộ và muốn làm gì đó giúp đỡ họ. Đó là tức giận tốt, có chủ đích. Ngược lại, bực bội vì cho rằng người khác đối xử với mình không công bằng là loại tức giận gặm mòn bản thân. Thật ra, toàn bộ bản điều tra Chilcot, cũng giống như năm bản điều tra trước đó, đều viết rằng tôi đã thành thật.

“Thành thật” là một từ ông rất hay dùng. Nhưng nhiều người nghĩ thành thật hay không thì điều ông đã làm vẫn là sai.

Họ nói như vậy là tốt rồi. Gọi tôi là kẻ giả dối mới không công bằng.

Nhiều người nói ông không có chút thanh liêm nào.

Truyền thông Anh sẽ không bao giờ nhả răng ra khỏi mông tôi. Một lý do khác là khuynh hướng chính trị của tôi không thời trang lắm.

Tại sao báo giới lại thù hận ông?

Vì họ không thích chủ nghĩa trung dung (cân bằng giữa cánh tả và cánh hữu).

Họ thu lợi từ các đường lối chính trị gây chia rẽ?

Đúng vậy. Có những ông trùm đầy quyền lực mang định hướng chính trị bảo thủ. Họ nhan nhản trong giới truyền thông và các ngành khác. Họ muốn đưa nước Anh trở về những năm 1980.

Làm như vậy bán được nhiều báo hơn à?

Ừ. Ngoài ra, trong những năm 1980, không ai bầu cho Công đảng, nên Đảng Bảo thủ muốn làm gì cũng được vì phe đối lập quá yếu.

Xin ông vui lòng nêu tên những người bảo thủ trong giới truyền thông đang thúc đẩy quá trình này.

Bây giờ chưa được.

Tạo sao chưa được?

Có những trận chiến mà tôi chưa sẵn sàng đánh.

Ông có nhắc đến gia đình. Chắn hẳn họ chịu rất nhiều áp lực. Tôi nghĩ họ sẽ thoải mái hơn nếu công luận xem ông như một người tử tế.

Đương nhiên. Nhưng rất may là mấy đứa con của tôi rất trầm tĩnh.

Ông có gặp khó khăn trong việc nuôi dạy con không?

Có, vì đời sống gia đình rất bất thường. Tuy nhiên, tôi là thủ tướng đầu tiên cho con học trường công và rất may là có nhiều trường tốt ở London. Tụi nhỏ đã học được rất nhiều về xã hội vì học sinh trường công thuộc nhiều thành phần kinh tế và văn hóa khác nhau.

–––

Cựu thủ tướng Anh Tony Blair

–––

Rwanda là một quốc gia Đông Phi nhỏ, xanh rì, không có bờ biển. Trong 20 năm qua, Rwanda đã chuyển mình từ một vùng đất tan hoang thành một trong những nền kinh tế thành công nhất châu Phi. Thủ đô Kigali là một thành phố cực kỳ sạch sẽ và trật tự. Cách hay nhất để tham quan nơi này là ngồi xe ôm lượn quanh những con đường dập dìu theo địa hình nhiều đồi và thung lũng.

Tháng 5–2016, Tony Blair đến Kigali dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới về châu Phi, với cương vị người sáng lập tổ chức Africa Governance Initiative (AGI). Được tài trợ bởi những người giàu có (trong đó có Bill Gates), AGI là một tổ chức từ thiện hỗ trợ phát triển. Thay vì viện trợ bằng tiền hoặc hiện vật, AGI đưa nhân viên vào chính quyền các nước (văn phòng tổng thống và các bộ ngành) để hỗ trợ triển khai chính sách. Một người trong số các nhân viên AGI nói khi ngồi nhậu với người viết: “Nhiệm vụ duy nhất của AGI là giúp họ làm nhanh hơn”.
Blair là một tên tuổi lớn ở Rwanda. Trong một sân vận động, một nhóm sinh viên gọi ông là “bạn thân của tổng thống Rwanda”. Khi được hỏi tại sao lại tạo dáng một cách hài hước trước ống kính báo giới, Blair trả lời: “Người ta biết mặt mình rồi thì càng phải chường mặt ra”.

Tổng thống Rwanda là Paul Kagame. Vào năm 1994, một cuộc diệt chủng ở Rwanda làm 900.000 người chết chỉ trong 100 ngày. Phong trào cải cách chống chính phủ mà Kagame dẫn đầu đã kết thúc chế độ diệt chủng. Sau khi lên nắm quyền từ năm 2000, Kagame là đối tác đã làm việc với Blair lâu nhất. Một người gầy gò, trí thức, Kagame đã có nhiều thành công trong việc điều hành kinh tế Rwanda, nhưng cũng bị tố cáo là cai trị thô bạo và đưa quân can thiệp vào nước Cộng hòa Dân chủ Congo lân cận.

Blair thích Rwanda: “Đất nước đang phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Thật đáng kinh ngạc”. Chúng tôi ở khách sạn Marriott, gần nơi diễn ra hội nghị. Xung quanh đây có nhiều trạm gác tạm thời để bảo vệ cho các nguyên thủ quốc gia và nhà ngoại giao từ khắp thế giới.
Khi ở Rwanda, Blair có một số cuộc họp với các chủ đề như nhập khẩu, năng lượng, xi-măng. Trong tất cả các vấn đề này, nhân viên AGI làm việc với người Rwanda để giúp họ hoàn thành mục tiêu.

Blair diễn giải: “Chính quyền nước nào càng thông minh, nước đó càng giàu mạnh. Tham nhũng hoặc theo đuổi những tư tưởng gàn dở là phá hoại vận mệnh quốc gia. Nếu có cơ chế quản lý tốt, sức phát triển của một nước sẽ vượt ngoài mọi giới hạn. Nhưng cái khó nhất vẫn là biến ý tưởng thành hiện thực. Chúng tôi giúp họ lên kế hoạch, ưu tiên và triển khai. Tôi muốn thay đổi cách thế giới phát triển”.
Tôi đi theo Blair qua một phòng thí nghiệm công nghệ cao, nơi sinh viên đang học về in 3D. Một bộ trưởng của Rwanda giải thích về tầm quan trọng của Blair. Ông này không biết tiếng xấu của Blair ở Anh.

Không có gì bất ngờ khi Blair muốn phô diễn những thành tựu này. Nhân viên AGI là những người thông minh, nhiệt tình, tận tâm, đến từ khắp nơi trên thế giới. Họ đến đây để làm những việc tốt.

Một tối nọ, khi Blair bận họp, nhân viên AGI và Esquire đi ăn tối ở một nhà hàng chuyên nấu món Trung Quốc. Một người hỏi công luận Anh nghĩ thế nào về Blair. Sau khi đắn đo suy nghĩ xem có nên làm mất vui hay không, chúng tôi trả lời thành thật : “Ơ… không ai ưa Blair”. Tất cả mọi người cười lớn. Họ đã biết rõ điều này. Ý họ muốn hỏi là có ai biết những gì Blair đang làm không.
Phần lớn người Anh không biết. Họ chỉ biết Blair kiếm được rất nhiều tiền bằng cách tư vấn cho các nhà độc tài.

Công việc của AGI cũng không đẹp đẽ gì – bàn tay sắt của Paul Kagame là một trong những lý do. Blair phân trần: “Ngay cả những người chống Kagame cũng phải công nhận rằng Rwanda đã có nhiều chuyển biến tốt trong khoảng tám, chín năm trở lại đây. Từ đáy lòng Kagame chỉ muốn tốt cho Rwanda. Phần lớn người Rwanda muốn ông ta ở lại nhiệm sở. Để làm giúp một nước phát triển kinh tế, tôi phải tạo dựng quan hệ tốt với giới lãnh đạo, nhưng điều này không có nghĩa là tôi không biết những mặt trái. Tôi hoàn toàn đồng ý với những quan ngại về việc cai trị thô bạo. Tôi sẽ luôn nhắc các nhà lãnh đạo về vấn đề này, cả ở Rwanda và ở những nơi khác”.

Vậy ông đã đề cập với Kagame về những lời cáo buộc chưa?

“Rồi. Kagame phản ứng bằng cách phê phán những người chống đối. Ở đây, cũng như ở Trung Quốc, chỉ trích chế độ là hợp lý, nhưng tốt nhất là vẫn nên có sự ổn định”.

Một số người nói Blair kiếm tiền bằng từ thiện. Một dịch vụ của Tony Blair Associates là tư vấn đầu tư. Vì quen biết rộng, Blair biết dự án nào cần vốn, biết ai có vốn và muốn đầu tư. Blair giải thích: “Chúng tôi không làm như vậy ở những nơi mà AGI hoạt động từ thiện”.

Nếu một đại biểu ở Diễn đàn Kinh tế Thế giới nói với Blair rằng muốn đầu tư vào các dự án phát triển ở Rwanda, Blair có giới thiệu với người này một nơi đầu tư tốt và dễ sinh lời không?

“Không. Như vậy sẽ gây ra mâu thuẫn lợi ích vì chúng tôi vẫn đang làm việc với văn phòng tổng thống”.

Khi được hỏi về các cáo buộc về việc kết hợp làm từ thiện với kinh doanh, Blair trả lời: “Hệ thống công ty tư vấn có tính phí của tôi không có liên quan gì đến Rwanda hay các nước tương tự”.

Lúc nào cũng vậy, Blair rất thân thiện và thư giãn. Ngoài trả lời, ông cũng hỏi lại: “Esquire dạo này thế nào? Anh cảm thấy như thế nào khi đi theo tôi? Anh có đang viết bài nào khác không?”. Blair cũng khuyến khích các nhân vật trên hành trình nói chuyện với người viết.

Tại khách sạn Marriott, chúng tôi bắt đầu nói về những vấn đề cá nhân hơn. Cherie (vợ của Blair) đã cùng đến Kigali.

Hai người có đi dạo xung quanh thành phố và ăn tối với nhau không?

“Thỉnh thoảng cũng có”, Blair trả lời. “Nhưng hiếm lắm. Lần này không được. Cherie sẽ dự bữa tối nhưng đó là bữa ăn với đối tác”.

Cherie có thường đi nước ngoài cùng ông không?

“Không. Tôi đi quá nhiều. Nhưng tôi cũng dành thời gian ở nhà”.

Ông có tập thể dục không?

“Ngày nào tôi cũng tập gym. Càng già càng phải chăm tập”.

Nhân viên của Blair toàn là những người ủng hộ và đồng ý với ông, như vậy có ảnh hưởng gì đến tâm lý?

“Nhân viên như vậy thì chủ dễ trở thành quái nhân lắm. Tôi phải kiểm soát tâm hồn mình để hiểu rằng bản thân tôi không bao giờ quan trọng như tôi tưởng tượng”.

Lúc trước ông thường so sánh chính trị gia với người bình thường, và tự cho mình là người bình thường chứ không phải là một chính trị gia. Bây giờ thì sao?

“Phải cẩn thận khi nói như vậy. Hiện nay tất cả mọi người đều nói tôi không bình thường”.

–––

Cựu thủ tướng Anh Tony Blair

–––

Trích đoạn một bài phỏng vấn Tony Blair tại London, 15–9–2016

Phần Ba

Tại sao ông phải kiếm nhiều tiền đến vậy sau khi rời nhiệm sở?

Tôi cần tiền để xây dựng tổ chức từ thiện. Tổng giá trị tài sản hiện có của tôi hiện nay ít hơn tổng số tiền mà tôi từng dùng để quyên góp.

Chính xác là bao nhiêu? Tất cả những gì người khác biết là ông nhận 2 triệu bảng một năm từ JP Morgan và có nhiều nhà to.

Khi qua tuổi lục tuần, tôi có đủ tiền mua một ngôi nhà đẹp ở London và một căn khác ở dưới quê. Bây giờ tôi sống rất thoải mái. Tuy nhiên, tôi cũng đã dùng hơn 10 triệu bảng làm từ thiện.

Vào tháng 4–2016, tờ The Times viết rằng ông “dùng một quỹ đen bí mật để giấu hàng triệu bảng”. Có quỹ nào như vậy không?

Không. The Times muốn dựng chuyện rằng tôi trốn thuế. Họ cho người trà trộn vào hàng ngũ nhân viên của tôi. Tất cả những gì họ thấy, một là, tôi hoàn toàn không trốn thuế; hai là, tôi căn dặn nhân viên không được trốn thuế. Với mỗi khoản thu trên thế giới, tôi đều đóng thuế đầy đủ cho nước Anh, mặc dù tôi không kiếm được xu nào ở Anh.

Hoạt động kinh doanh của ông vẫn có rất nhiều bí mật.

Nếu nói hết ra thì người ta cũng tìm cách xuyên tạc thôi. Nhưng tôi sắp dẹp hết chuyện kinh doanh rồi, nên cũng không quan trọng nữa.

Ông có hối hận vì đã làm cố vấn cho chính quyền Kazakhstan không? Nhiều người dùng chuyện đó để chỉ trích ông.

Chúng tôi rời Kazakhstan lâu rồi, nhưng tôi rất hãnh diện vì đã hợp tác với họ. Họ thân thiện với tất cả các nước trên thế giới. Người Kazakhstan chủ yếu theo đạo Hồi nhưng rất ôn hòa. Các quan chức làm việc với chúng tôi là những người có năng lực và muốn đổi mới. Chúng tôi đã giúp họ phát triển nhiều dự án thiết thực.

Nhưng Kazakhstan được cai trị bởi một chế độ độc tài.

Đúng, nhưng khi một nước muốn thay đổi, cần phải giúp đỡ họ.

–––

Cựu thủ tướng Anh Tony Blair

–––

Để đến được văn phòng thủ tướng ở Jerusalem, khách mời phải đi qua một loạt các chốt kiểm tra an ninh. Ba cô gái mặc suit màu đen kiểm tra hộ chiếu. Họ bàn luận và thỉnh thoảng liếc mắt về phía người mang hộ chiếu. Một cô khoảng 19 tuổi dẫn khách ra ngoài đứng dưới trời nắng và hỏi những câu như: Anh gặp thủ tướng làm gì? Ai sắp xếp cuộc hẹn? Anh đã gặp những ai khác ở Israel? Anh đã đến những nơi nào khác? Anh đang ở khách sạn nào? Bao lâu? Hỏi xong, cô đi vào trong và báo cáo lại với một người khác khoảng 22 tuổi. Một lần nữa chúng tôi bị dẫn ra ngoài để thẩm vấn. Hộ chiếu bị thu đi và trả lại nhiều lần.

Phải tốn rất nhiều thời gian chúng tôi mới được phép đi qua máy dò kim loại vào bên trong tòa nhà. Bên trong không có gì hoành tráng, thậm chí hơi tồi tàn, trông có vẻ như một tòa nhà văn phòng cũ.

Sau khi ngồi đợi trên sofa, người viết được dẫn đi dọc theo một hành lang màu trắng ngà. Hai bên hành lang là các văn phòng nhỏ. Mỗi văn phòng có một chậu cây kiểng. Cuối hành lang có một cái cửa bằng kính dẫn vào một văn phòng lớn hơn. Khách mời phải gởi lại điện thoại vào một cái rổ bên ngoài, nhưng vẫn được mang máy ghi âm vào phòng. Bên trong, đội ngũ nhân viên hùng hậu đứng thành hàng dài sát một bức tường có treo bản đồ Trung Đông. Simon Emmett, người chụp những tấm ảnh cho bài báo này, bắt đầu bấm máy liên tục.

Blair và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu ngồi đối diện trên ghế bành bằng da. Giữa họ là một cái bàn trà hình tròn bằng kính. Netanyahu không cao nhưng rất cơ bắp, làm cho Blair và những người khác trông mỏng manh và nhẹ cân khi đứng cạnh. Blair là người hay huyên thuyên và giỏi làm cho người khác cảm thấy thoải mái, nhưng tài ăn nói của ông không làm Netanyahu đổi sắc mặt. Tất cả mọi người đều mặc suit màu đậm và đeo cà vạt (đây là một trong số rất ít lần Blair đeo cà vạt). Sau khi được Blair giới thiệu, người viết bắt tay Netanyahu. Netanyahu huơ tay chỉ vào mấy cái ghế đặt xung quanh một cái bàn nhỏ rồi nói: “Hãy làm những gì cần làm”. Blair gật đầu với chúng tôi và cười một cách căng thẳng, đồng thời không cho dùng máy ghi âm. Cũng như trong các cuộc họp khác, người viết bắt đầu ghi chép lại, dù cần đưa vào bài hay không.

Khi Simon bước tới trước để chụp hình, Blair nói với Netanyahu rằng Simon là một nhiếp ảnh gia “nổi tiếng thế giới” đang sống ở London nhưng là người Israel (thật ra Simon mang hai quốc tịch Anh và Israel). Khi gặp bất kỳ ai, Blair đều thân thiện nhưng rất có chừng mực và làm tất cả mọi người cảm thấy mình quan trọng. Ông luôn giới thiệu Simon như một nhiếp ảnh gia “nổi tiếng thế giới”. Điều này làm Simon cảm thấy thích thú. Những người khác trong phòng cũng cảm thấy như vậy, vì họ đang tham dự vào một sự kiện cần một nhiếp ảnh gia “nổi tiếng thế giới”.

Tuy nhiên, Netanyahu hoàn toàn không bị ấn tượng mà chỉ hỏi xem Simon có biết tiếng Hebrew không. Simon trả lời bằng tiếng Hebrew. Họ nói với nhau vài câu.

Một lúc sau, Netanyahu bảo người viết: “Hỏi đi”.

Ông nghĩ như thế nào về kế hoạch hòa bình của Blair. Blair muốn đối thoại nhiều bên giữa Israel, Palestine, các nước Ả Rập. Kế hoạch này có khả thi không?

Netanyahu không cần suy nghĩ mà ngay lập tức trả lời bằng tiếng Anh rất chuẩn. Tôi bắt đầu viết nhưng không được gì nhiều. Netanyahu nói: “Tôi rất lạc quan về kế hoạch này so với một năm về trước. Một năm về trước tôi lạc quan hơn so với hai năm về trước”.

Sau đó ông bắt đầu khen Blair và nói về tầm quan trọng của Blair trong tiến trình hòa bình. Blair thấy vậy liền nói nhỏ (nhưng kiên quyết): “Bật máy thu âm lên”. Đáng tiếc, lúc đó Netanyahu đã nói sang chi tiết về các triển vọng hòa bình.

Blair đã lo bò trắng răng. Sau khi nói xong, Netanyahu nhìn thẳng vào người viết và nói: “Anh cứ biên tập tùy thích, nhưng đừng thay đổi ý nghĩa”. Trong vòng 24 giờ đồng hồ, người của Netanyahu đã gởi bản ghi chép chi tiết của cuộc họp cho Esquire.

Netanyahu cũng nói giống hệt như những người mà chúng tôi gặp ở Jerusalem: “Điều kiện hiện tại tương đối thuận lợi để tìm kiếm hòa bình giữa Israel và các nước Ả Rập, trong đó có Palestine. Tôi đồng ý với Blair rằng có sự liên quan mật thiết giữa các tiến trình này”.

“Trung Đông và thế giới đang thay đổi. Các nước bắt đầu hiểu Israel không phải là kẻ thù, mà là một đồng minh trong cuộc chiến chống Hồi giáo cực đoan. Đây là cơ hội để Israel và các nước Ả Rập hợp tác”.

“Lúc trước người ta nói hòa bình với Palestine sẽ dẫn đến hòa bình với các nước Ả Rập. Điều này hoàn toàn chính xác, nhưng con đường ngược lại cũng ngày càng rõ ràng. Bằng cách bình thường hóa quan hệ với các nước Ả Rập, Israel có thể nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm hòa bình với Palestine. Đây là điều mà tôi luôn thỏa luận với Tony, cũng như với những người khác ở Trung Đông và thế giới”.

Sáng hôm sau, trong căn phòng nhìn ra bãi biển Địa Trung Hải, Blair mặc quần chinos và áo sơ-mi màu xanh da trời. Blair đến Israel làm gì khi không còn làm việc chính thức ở đây?

Blair bắt đầu kể, khi còn làm thủ tướng, ông có làm việc với Israel và Palestine. Khi từ chức tổng thống vào năm 2007, một trong những mục tiêu mà Blair đặt ra là xây dựng nhà nước Palestine. Vì vậy, ông được bổ nhiệm làm đặc sứ trong đàm phán bốn bên, nhưng không được giao bất kỳ việc gì liên quan đến chính trị. Truyền thông và công luận nghĩ rằng Blair đến Jerusalem để đem hòa bình đến cho Trung Đông. Thật ra, công việc của Blair cụ thể hơn, nhưng không kém phần khó khăn: Hỗ trợ nhà nước Palestine xây dựng kinh tế. Tuy nhiên, vì không có tiếng nói chính trị, Blair bị cản trở bởi những hoàn cảnh mà ông không thay đổi được.

Blair tóm tắt lại: “Tôi bị rơi vào một tình thế nguy hiểm: Có chức mà không có quyền. Tôi phải chịu trách nhiệm cho những kết quả mà mình không thay đổi được”.

Theo Blair, hòa bình giữa Israel và Palestine rất quý giá, nhưng cần nhiều thay đổi to lớn mới đến được đó. “Đây không chỉ là tranh chấp lãnh thổ. Đối với thế giới, quan hệ tốt đẹp giữa Israel và các nước Ả Rập sẽ là một tiến bộ vượt bậc về hòa hợp văn hóa và chung sống hòa bình”.

“Tháng đầu tiên tôi đến đây, người ta nói tôi sẽ chỉ trụ được sáu tháng. Sáu tháng sau, tôi vẫn còn đó. Họ nói tôi sẽ chỉ trụ được một năm. Một năm sau, tôi vẫn còn đó. Tám năm sau tôi nghỉ làm. Họ nói tôi sẽ biến mất vĩnh viễn. Bây giờ tôi vẫn còn đây”.

“Tôi đã tạo dựng được nhiều mối quan hệ rộng rãi. Khi không có chức vụ chính thức, tôi làm việc hiệu quả hơn. Người khác không còn e dè khi nói chuyện với tôi. Tôi đang kết nối các tiến trình hòa bình lại với nhau. Ngày càng có nhiều người muốn đưa các nước Ả Rập vào thỏa thuận giữa Israel và Palestine”.

Blair bắt đầu nói về những nhà lãnh đạo mới trong khu vực – Ai Cập, Ả Rập Saudi, Jordan, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Qatar. Blair khen họ thực tế, nhạy bén và năng động. Họ rất ủng hộ khuôn khổ thương thảo hòa bình mới.

Người viết xem xét căn phòng, bước ra ban công nhìn về phía bãi biển, rồi hỏi ai trả tiền thuê phòng.

Blair trả lời: “Tôi chi một phần, phần còn lại là tiền quyên góp”.

Nhưng đây không phải là làm từ thiện?

“Về pháp lý thì không, nhưng có thể coi là từ thiện khi làm xong”.

Một nhân viên của Blair thêm vào: “Sẽ xong nhanh thôi”.

–––

Cựu thủ tướng Anh Tony Blair

–––

Trích đoạn từ một bài phỏng vấn Tony Blair tại London, 15–9–2016

Phần Bốn

Không ai ép buộc ông đến Trung Đông, tại sao ông lại hoạt động ở đó?

Bởi vì tôi muốn góp sức giải quyết một vấn đề quan trọng. Tôi cũng đã dành phần lớn cuộc đời để cố gắng làm thế giới tốt hơn, nên tôi muốn tiếp tục sự nghiệp này.

Một người đa nghi sẽ cho rằng ông đang bù đắp lại tội lỗi…

Không.

Hay ông cảm thấy có trách nhiệm vì đã góp phần lớn trong việc tạo ra những vấn đề mà thế giới đang đối mặt.

Tôi cảm thấy có trách nhiệm. Làm việc ở Trung Đông một phần xuất phát từ thời gian làm thủ tướng của tôi. Nhưng còn có một lý do khác. Cách tiếp cận các vấn đề như phát triển quốc gia, chủ nghĩa cực đoan, Trung Đông của tôi khác với cách làm của phương Tây hiện nay. Những chính sách này phải thay đổi.

Người ta chỉ biết đến tiền của tôi và chiến tranh Iraq. Họ không biết bây giờ tôi đang làm gì, Nhưng sau này tổ chức của tôi sẽ lớn mạnh và làm được nhiều điều hơn. Lúc đó thế giới có thể sẽ có cái nhìn khác.

Nhiều người cho rằng ông đang làm vậy để lấy lại uy tín cho bản thân.

Không. Tôi rất quan tâm đến Trung Đông vì tôi muốn góp phần xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Israel và các nước Ả Rập. Ngày càng nhiều người công nhận đây là cách duy nhất để mang đến hòa bình cho Trung Đông. Mâu thuẫn với Israel cũng một phần làm người Hồi giáo bị cực đoan hóa. Cách duy nhất để đánh bại chủ nghĩa khủng bố là hàn gắn lại Trung Đông chứ không phải dùng bạo lực. Trung Đông sẽ có một tương lai tươi sáng. Nhiều người không hiểu biết cho rằng hòa bình Trung Đông là vô vọng, nhưng thật ra khu vực này đang liên tục chuyển biến theo một chiều hướng tốt hơn. Tình trạng hỗn loạn hiện nay sẽ được thay thế bằng một cái gì đó ổn định và bền vững hơn.

Tôi đã đi theo ông trong một khoảng thời gian dài. Cuộc sống của ông bị bó hẹp gần như hoàn toàn trong công việc. Vào một ngày đẹp trời, mọi người đi uống cà phê, đi dạo, ngồi ghế công viên đọc sách. Ông không làm được những việc này. Ông có cảm thấy nhớ những ngày thư thả không?

Có. Nhưng càng bận thì càng làm được nhiều việc.

Ông có nghĩ mình đã có thể chọn một cuộc đời khác?

Thỉnh thoảng tôi cũng tự hỏi như vậy. Tôi không thể làm luật sư suốt đời. Tôi vẫn luôn suy ngẫm về nhiều thứ khác. Tôi rất có hứng thú với đức tin và tôn giáo. Nhưng bây giờ, tôi chỉ muốn tập trung làm khởi sắc chủ nghĩa trung dung trong chính trị.

Thời gian làm cựu thủ tướng của ông sắp vượt thời gian làm thủ thướng. Ông thích làm cái nào hơn?

Có lẽ một số người thích làm thủ tướng, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ như vậy. Trách nhiệm nặng nề và những quyết định trọng đại không để thời gian cho việc thích thú.

Vậy ông có mãn nguyện với chức thủ tướng?

Có. Điều hành một quốc gia làm tôi phấn chấn tinh thần, nhưng mà cũng stress lắm.

ESQUIRE VIỆT NAM

Đừng bỏ qua:

Bình luận