Phát triển kinh tế bền vững, yêu cầu sống còn

Mỗi khi các tổ chức quốc tế công bố những bảng đánh giá trên toàn cầu, nhất là trong lĩnh vực phát triển kinh tế, người Việt thường không vui với kết quả...

phat-trien-kinh-te-hinh-anh

Tính bền vững về kinh tế được thể hiện trên các khía cạnh: sự tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và bình đẳng về cơ hội tham gia cũng như hưởng thụ thành quả phát triển của mọi người. Những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế nhất định nhưng vẫn còn nhiều điều bất cập và thách thức. Tuy nhiên, Việt Nam đã xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 là: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”.

BỨC TRANH KINH TẾ CÒN NHIỀU MẢNG TỐI!

Tôi vừa tham gia đoàn cứu trợ đến 3 tỉnh bị ảnh hưởng lũ lụt nặng nề là Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An. Tận mắt chứng kiến những khó khăn của người dân, không chỉ vì lũ mà bao đời nay đều nhọc nhằn, tôi cảm thấy xót xa. Nhìn những ngôi trường dột nát, dụng cụ học tập sơ sài, thấy thương cho các em học sinh và có chút lo lắng cho tương lai đất nước. Rõ ràng, chúng ta tự hào tăng trưởng kinh tế cao, liên tục trong nhiều năm nhưng cũng chưa thay đổi được gì nhiều cuộc sống của người dân, đặc biệt là những tỉnh miền Trung.

phat-trien-kinh-te-hinh-anh 6

Và ngay trong vấn đề tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ sự thiếu bền vững. Chúng ta có con số tăng trưởng kinh tế bình quân 7,5%/năm giai đoạn 2001-2005, rồi giảm xuống còn 6,9%/năm giai đoạn 2006-2010 và từ đó đến nay chỉ còn khoảng trên dưới 6%/năm. Nhìn chung, các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế có mức tăng, song cũng chưa thực sự bền vững.

Không chỉ tốc độ tăng trưởng kinh tế bị chậm lại mà hệ số ICOR của nền kinh tế ngày càng cao: Thời kỳ 1996 – 2000 bình quân là 4,7; thời kỳ 2001 – 2005 là 5,2; thời kỳ 2006 – 2010 là 6,1; năm 2010 là 6,2; năm 2011 là 6,2 và năm 2012 là 6,7 và hiện nay là xấp xỉ 8. Mức này cao gấp đôi các nước trong khu vực. Việt Nam đang đối diện với vấn đề hiệu quả trong đầu tư, trong năng suất lao động.

Cho nên, mỗi khi các tổ chức quốc tế công bố những bảng đánh giá trên toàn cầu, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, người Việt thường không vui với kết quả. Đặc biệt, bộ chỉ số quan trọng là Năng lực cạnh tranh tổng hợp (Global Competitiveness Index) của Việt Nam liên tục giảm. Xếp hạng của Việt Nam như sau: hạng 61 năm 2004-2005; hạng 64 năm 2006-2007; hạng 68 năm 2007-2008; hạng 70 năm 2008-2009 và hạng 75 năm 2009-2010. Con số này cho thấy Việt Nam không chỉ tụt hạng theo thời gian, tức là năng lực cạnh tranh tổng thể của Việt Nam chậm được cải thiện so với các quốc gia khác trên thế giới, mà chúng ta còn chậm tiến bộ so với chính bản thân chúng ta.

phat-trien-kinh-te-hinh-anh 2

Gần đây, vụ bê bối về thua lỗ của Công ty Xây lắp Dầu khí PVC gắn với ông Trịnh Xuân Thanh được phân tích, mổ xẻ, thì lại tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Không chỉ có Công ty PVC, trước đó còn có Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam và sắp tới có thể là PVx đều thua lỗ nặng nề. Tuy nhiên, chính quyền – bộ ngành và ngân hàng vẫn rất ưu ái thành phần kinh tế này. Mặc dù khu vực kinh tế Nhà nước chiếm một lượng vốn rất lớn, song đầu tư kém hiệu quả, thể hiện ở các chỉ số ICOR, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh, vấn đề giải quyết việc làm… điều này làm hạn chế sự năng động của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, nhờ chính sách mở cửa, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP; khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng, chiếm khoảng trên 20% GDP, đóng góp tỷ lệ lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Chính sự năng động của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung, tạo công ăn việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.

Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP hiện còn chiếm trên 22%, dịch vụ chỉ chiếm chưa đầy 39%; tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng chiếm từ 42% – 43% GDP. Trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp còn lạc hậu; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa phát huy lợi thế trong từng ngành, từng vùng, từng sản phẩm; vẫn còn nhiều ngành tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên.

phat-trien-kinh-te-hinh-anh 3

Kinh tế Việt Nam cũng đang đối diện với nợ công gia tăng, chiếm tỷ lệ lớn, trên 60% trong GDP. Thâm hụt ngân sách với tỷ lệ khá cao. Bội chi ngân sách hàng năm từ khoảng từ 3% – 6% GDP. Nguồn lực vốn cho tăng trưởng vẫn dựa quá nhiều vào nguồn lực bên ngoài, trong đó, vốn vay ODA chiếm tỷ trọng cao, gây nên gánh nặng nợ quốc gia ngày càng tăng và đe dọa sự ổn định tài chính trong tương lai. Hệ thống ngân hàng thương mại đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, nợ xấu chưa được xử lý đang đe dọa đến an ninh tài chính quốc gia. Việc các ngân hàng quản trị lỏng lẻo, buộc nhà nước phải “ra tay” mua lại với giá 0 đồng rồi hà hơi tiếp sức, thể hiện sự bất ổn trong thị trường tài chính. Tuyên bố của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về việc cho phép phá sản ngân hàng là cần thiết nhưng rất cần những bước đi thận trọng, chính xác, nếu không, tình hình kinh tế sẽ bất ổn hơn.

Môi trường đang là vấn đề nóng trong định hướng phát triển bền vững của Việt Nam. Việc Công ty Formosa xả thải, gây ô nhiễm nghiêm trọng biển miền Trung và phải cúi đầu nhận lỗi, đền bù chỉ là một mảng tối rất nhỏ trong bức tranh tổng thể về ô nhiễm môi trường tại Việt Nam hiện nay. Đây cũng là cái giá rất đắt mà đất nước này phải trả cho một thời kỳ bị dẫn dắt bởi tư duy: phát triển kinh tế bằng mọi giá. Chung quy cũng tại cái nghèo và sự thiếu hiểu biết, hạn chế về tầm nhìn. Hiện nay, môi trường và tài nguyên thiên nhiên đang bị suy thoái nhanh chóng dưới áp lực tăng trưởng nhanh. Phát triển đô thị, đặc biệt là phát triển nông thôn, còn thiếu quy hoạch và tự phát, hoặc có quy hoạch nhưng quản lý kém. Kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội còn lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

ĐÂU LÀ GIẢI PHÁP?

Đầu tiên, cần tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Những ưu đãi bất hợp lý dành cho doanh nghiệp nhà nước cần bãi bỏ. Cách thức can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế phải tạo ra một môi trường để các thành phần kinh tế cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng; lấy thị trường làm căn cứ để phân bổ nguồn lực vốn có hiệu quả; hạn chế tới mức thấp nhất sự can thiệp hành chính của Nhà nước. Cải thiện môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư nhằm khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó, phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cần đổi mới hệ thống giáo dục, đào tạo theo yêu cầu của thị trường lao động, nâng cấp trang thiết bị dạy học, học nghề, tiêu chuẩn hóa các cơ sở đào tạo với những tiêu chí phù hợp, đào tạo người lao động có khả năng thích ứng tốt với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

phat-trien-kinh-te-hinh-anh 4

Đồng thời, phải đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng chuyển nền kinh tế phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu. Tăng cường năng lực về khoa học công nghệ, nhất là phát triển mạnh mẽ công tác R&D. Tập trung vào phát triển các ngành, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tăng cường đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hiện đại.

Cần sử dụng tốt các nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Nhà nước cần có các quy hoạch sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia một cách tốt nhất. Việc đổi mới hệ thống chính sách kinh tế, bảo vệ môi trường và chính sách xã hội phải được tiến hành gắn với mục tiêu phát triển bền vững, công bằng xã hội. Tránh tình trạng chính sách tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, xung đột với mục tiêu phát triển bền vững. Chính sách kinh tế và chính sách xã hội phải thực sự là kênh để điều tiết thu nhập giữa các ngành, giữa các doanh nghiệp, vùng, miền và giữa các bộ phận dân cư. Chính sách môi trường phải thực sự làm tăng trưởng kinh tế và thực hiện tốt mục tiêu phát triển bền vững về môi trường.

DỰ BÁO KINH TẾ NĂM 2017

Theo đánh giá của một số chuyên gia kinh tế, tác động từ tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được Chính phủ quyết liệt chỉ đạo thực hiện trong năm 2016 sẽ phát huy hiệu quả nhiều hơn trong năm 2017.

Theo Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia (NCIF) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra 2 kịch bản cho tăng trưởng kinh tế năm 2017. Kịch bản 1, tăng trưởng kinh tế duy trì ổn định ở mức 6,44%, lạm phát khoảng 5%, trên cơ sở hiệu quả đầu tư trong nước tiếp tục được cải thiện; vốn đầu tư khu vực nhà nước tiếp tục duy trì, tăng 7%… Còn kịch bản thứ hai là tăng trưởng kinh tế dự báo ở mức 6,72%, lạm phát ở mức 6%, nhờ tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng kinh tế thông qua hội nhập, cơ cấu và quy mô nền kinh tế có cải thiện tích cực hơn.

phat-trien-kinh-te-hinh-anh 5

Để đạt mục tiêu tăng trưởng như trên, Chính phủ phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp: tiếp tục củng cố và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng công tác dự báo; nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, nhất là vốn đầu tư công; hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp… Đặc biệt, nợ công là vấn đề cần được chú ý. Tỷ lệ chi hành chính trên tổng chi ngân sách nhà nước đã tăng từ mức trung bình 8% trong giai đoạn 2007-2009 lên tới 11% trong giai đoạn 2013-2016. Do đó, tăng cường thu ngân sách và cắt giảm chi tiêu sẽ rất cần thiết để đảm bảo tính bền vững của nợ công. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin vào một tương lai tích cực, phát huy nội lực quốc gia và những cơ chế thông thoáng thúc đẩy doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư phát triển kinh tế!

BÀI: TIẾN SỸ NGUYỄN TUẤN QUỲNH

ESQUIRE VIỆT NAM

Đừng bỏ qua:

Bình luận