Tại sao ngành than Việt Nam “thất thu”?

Nước ta vẫn phải nhập khẩu than, nhưng nghịch lý thay, ngành than Việt Nam đang tồn kho khoảng 10 triệu tấn! Tiến sỹ Nguyễn Tuấn Quỳnh lý giải về điều trớ trêu này

nganh-than-viet-nam-hinh-anh

Cách đây hơn một năm, Ditri – người bạn Indonesia mà tôi quen thông qua hoạt động JCI, hẹn gặp tôi ở TP. HCM để bàn việc hợp tác kinh doanh. Ditri nhờ tôi giới thiệu các công ty có thể nhập khẩu than đá từ Indonesia và cho biết, Việt Nam đang nhập khẩu than rất nhiều. Tôi hoàn toàn bất ngờ về thông tin này. Với một kẻ ngoại đạo trong ngành than, lâu lâu lại thấy xuất hiện thông tin liên quan đến “than thổ phỉ” xuất trái phép đi Trung Quốc hoặc mỗi khi về Hạ Long, Uông Bí vẫn thấy mù mịt bụi than thì không thể tin rằng, Việt Nam lại đang nhập khẩu than…

Nhưng những câu chuyện trà dư tửu hậu kiểu Việt Nam phải nhập khẩu than là không hề đùa. Tính đến ngày 15–9–2016, theo số liệu của Bộ Công Thương, Việt Nam đã nhập khẩu 10,113 triệu tấn than, với trị giá nhập khẩu gần 630 triệu USD. Như vậy, sản lượng than nhập khẩu đã tăng tới hơn 173% so với cùng kỳ năm và trị giá kim ngạch tăng gần 97%. Xét về thị trường nhập khẩu, ba quốc gia cung ứng than nhiều nhất cho Việt Nam là Nga, Trung Quốc và Indonesia.

Dở khóc, dở cười

Câu chuyện nhập khẩu than đá không dừng lại ở năm nay. Cả nước hiện có 19 nhà máy nhiệt điện than, con số này sẽ tăng lên 52 vào năm 2030, nên số lượng than cần nhập khẩu sẽ ngày càng tăng. Theo dự báo của Bộ Công Thương, từ nay đến năm 2030, lượng than nhập khẩu sẽ liên tục tăng qua từng năm. Cụ thể, năm 2017 là 11,71 triệu tấn; năm 2018 là 20,972 triệu tấn; năm 2020 là 40,256 triệu tấn… năm 2025 là 70,331 triệu tấn và vượt con số 100 triệu tấn vào năm 2030.

Nghịch lý là, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu than khi ngành than đang tồn kho khoảng 10 triệu tấn! Từ vị thế của nhà xuất khẩu “vàng đen” với lượng vài chục triệu tấn than mỗi năm, nay chúng ta đã trở thành nhà nhập khẩu với tốc độ tăng đáng ngạc nhiên, rơi vào cảnh dở khóc dở cười – vừa tồn kho lớn, vừa phải đi nhập. Con số 10 triệu tấn than tồn kho là mới chỉ là thống kê tại ba kho vận của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), con số thực tồn trên các bãi chứa tại các khai trường sẽ là rất lớn và có thể tới vài triệu tấn.

nganh-than-viet-nam-hinh-anh 2

Chuyên gia trong ngành giải thích tình trạng dư thừa than là do một số nhà máy điện, xi măng ngay từ đầu đã thiết kế sử dụng than nhập khẩu. Bên cạnh đó, một số nhà máy đã thay đổi công nghệ để dùng than nhập khẩu dễ đốt thay cho than antraxit trong nước khó đốt. Do vậy, nhu cầu sử dụng than nhập khẩu tăng. Tuy nhiên, vấn đề không phải do công nghệ.

Ế do chi phí sản xuất cao

Theo ý kiến của một cựu lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), trong những năm 2008–2011, nhu cầu sử dụng than trên thế giới khá cao nên thị trường thuộc về người bán. TKV thời điểm đó có lãi nhiều nhờ xuất khẩu. Tuy nhiên, từ năm 2012, thị trường than thế giới chững lại rồi giá giảm đến một nửa. Trong khi đó, chi phí sản xuất than trong nước liên tục tăng dẫn đến giá đã cao hơn nhập khẩu. Các mỏ than tại Việt Nam ngày càng xuống sâu hơn nên chi phí tăng cao. Ngoài ra, sự quản lý chi phí tại TKV chưa tốt. Nếu thành công trong việc siết chặt quản lý chi phí, TKV có thể giảm đáng kể giá thành than. Chủ tịch HĐTV TKV Lê Minh Chuẩn cho rằng: “TKV mất quá nhiều thị phần bán hàng truyền thống là do giá không cạnh tranh. Giá bán than không tăng và tiếp tục phải giảm xuống trong vòng 5-7 năm tới. Trong khi tác động chi phí sản xuất là chuyện lòng vòng mua bán vật tư, đơn giá thiết bị đôn giá; có sự thông đồng của cán bộ mua bán vật tư tại các đơn vị, làm sai lệch chỉ số kỹ thuật, gây thất thoát lớn dẫn đến chi phí sản xuất tăng cao”… Kết quả tất yếu là TKV phải nhập than giá rẻ về trộn với than sản xuất để mang đi bán. TKV vừa tồn kho lớn than, vừa trở thành doanh nghiệp phải nhập than nhiều nhất.

Như vậy, một trong những nguyên nhân thị trường than Việt Nam bị thất thu là do yếu tố giá thành. Do khoảng cách, các nhà máy nhiệt điện phía Nam nhập than của Indonesia còn rẻ hơn mua của TKV và vận chuyển từ miền Bắc vào. Ví dụ, nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 3 tại tỉnh Trà Vinh – vận hành vào cuối năm nay, sẽ sử dụng than bitum nhập khẩu từ Indonesia làm nguyên liệu có giá thấp hơn nhiều so với than mua trong nước. Một số nhà máy nhiệt điện khác theo kế hoạch cũng sẽ sử dụng than nhập như Duyên Hải 3 mở rộng, Vĩnh Tân 4 (Bình Thuận)…

Và như vậy, chẳng ai có thể cấm đoán các nhà máy nhập khẩu than với giá rẻ hơn. Ở thời điểm này, giá bán than cho các hộ dùng than trong nước của TKV vẫn cao hơn giá than nhập khẩu. Điều này, tất yếu dẫn đến kết quả kinh doanh yếu kém của TKV. Báo cáo tài chính hợp nhất của TKV công bố cho thấy, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 6 tháng đầu năm nay sụt giảm hơn 3.000 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước, lợi nhuận tại thời điểm 30–6–2016 chỉ còn bằng 22,74% so với cùng kỳ 2015.

nganh-than-viet-nam-hinh-anh 3

Có vẻ như lâu nay ngành than đã “ngủ quên” trên vị trí độc quyền sản xuất và chậm đổi mới công nghệ nên giá thành khai thác ngày càng cao. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, giá bán than trong nước cao hơn giá than nhập khẩu là điều khó chấp nhận được. Vì thế, xu hướng nhập khẩu than thay thế dần nguồn than trong nước là cần thiết để vừa bảo đảm nhu cầu năng lượng, vừa hạn chế khai thác cạn kiệt tài nguyên quốc gia, vừa giảm bớt thế độc quyền của đơn vị khai thác than trong nước bấy lâu nay.

Và chính sách thuế…

Hiện nay, có 18 đầu mối nhập khẩu than từ nước ngoài vào Việt Nam. Trong đó, TKV vừa là nhà sản xuất cũng vừa là một đầu mối nhập khẩu. Dự báo tình hình nhập khẩu than sẽ còn tăng do thuế nhập khẩu hiện nay được duy trì ở mức 0%. Việc giá thành than tại Việt Nam cao còn do chính sách thuế chưa hợp lý. So sánh với Úc, thuế tài nguyên đối với than lộ thiên là 7%, chúng ta là 12%; thuế với than hầm lò là 5%, còn chúng ta cao gấp đôi. Như vậy, thuế và phí với ngành than trong nước đã cao hơn các nước khác và đạt mức kỷ lục từ ngày 1/7/2016, khi chiếm tới 16% giá thành, trong khi thế giới không quá 12%.

Như vậy, để ngành than Việt Nam thoát khỏi thế bí, bên cạnh chính sách thuế cần xây dựng hợp lý thì bản thân TKV phải xem xét lại chính mình. Đến lúc này, lãnh đạo TKV cần sớm đưa ra bài toán đột phá, giải pháp quản trị về giá thành hiệu quả, cùng một chiến lược dài hạn thì mới hy vọng “đưa đoàn tàu cồng kềnh” trở lại thành một ngành kinh tế mạnh trong nước – như đã từng như vậy.

BÀI: TIẾN SỸ NGUYỄN TUẤN QUỲNH

ESQUIRE VIỆT NAM

Đừng bỏ qua:

Bình luận